0902101668 - Tỷ giá Nhân Dân Tệ: 3410 VNĐ
0 Flares Filament.io 0 Flares ×

Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập gsp là gì

Chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập (General System of Preference) là hệ thống ưu đãi về thuế quan của các nước công nghiệp phát triển dành cho một số mặt hàng nhất định mà họ nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Ví dụ: Nhật Bản, EU dành cho VN được hưởng GSP. Để nhận thêm nhiều giá trị bổ ích xin liên hệ với công ty Vĩnh cát logistics 0902101668.

Đặc điểm của GSP

– Thuế nhập khẩu GSP nhỏ hơn thuế MFN.

– GSP chỉ quy định về thuế quan. GSP là ưu đãi của các nước phát triển cho các nước đang phát triển, nhưng trong GSP họ chỉ cam kết là ưu đãi về thuế với hàng hóa chứ không đề cập tới rào cản kỹ thuật khác hoặc những hạn chế định lượng mà hàng hóa các nước đang phát triển gặp phải.

– GSP không mang tính chất cam kết lâu dài. Có thời hạn hiệu lực nhất định, mỗi quốc gia trên cơ sở tập trung của GSP họ tập trung xây dựng riêng cho họ chẳng hạn như GSP của Mỹ thì nội dung sẽ khác với của EU, chương trình đó có thời hạn nhất định (chẳng hạn trong vòng bao nhiêu năm đó thì Việt Nam được hưởng GSP, nhưng sang năm sau họ có thể loại VN, hoặc mặt hàng xuất khẩu đó của VN ra khỏi danh sách được hưởng GSP, hoặc một nước đang phát triển sau nhiều năm nước đó có thu nhập bình quân đầu người tăng lên thì nước này không còn đủ điều kiện để được hưởng GSP nữa).

bieu-thue-hang-hoa-xuat-nhap-khau-2018

– Mang tính chất đơn phương, không yêu cầu có đi có lại. Ví dụ: EU dành cho VN ưu đãi nhưng không đòi hỏi VN giành cho mình sự ưu đãi ngược lại.

– Các nước cho hưởng có những quy định chặt chẽ: họ có thể dựa vào rất nhiều quy định, ví dụ sau này khi xuất khẩu hàng hóa thì trước hết phải xác định VN có phải là nước được hưởng GSP của một nước mà ta xuất khẩu hàng sang không, hàng hóa phải xuất khẩu từ một nước được hưởng GSP, sản phẩm có nằm trong danh mục được hưởng GSP hay không, sản phẩm đó phải đáp ứng được một số quy tắc xuất xứ (EU dành cho VN ưu đãi GSP, vậy VN phải làm thế nào để chứng minh được rằng hàng hóa đó là có xuất xứ của VN nếu không thì hàng hóa của một nước khác mà không được EU cho hưởng ưu đãi nhưng trá hình là hàng hóa của VN xuất khẩu sang để được hưởng ưu đãi thuế đó – ngày nay rất ít hàng hóa có xuất xứ toàn bộ như giày dép hoặc hàng dệt may thì ta phải nhập khẩu nguyên vật liệu từ nước ngoài thì phải tính ra tỷ lệ % hàng nhập khẩu từ nước ngoài và tỷ lệ % xuất xứ từ VN, hoặc điều kiện vận tải, thu nhập bình quân đầu người của nước được hưởng, cơ chế bảo vệ (ví dụ như VN xuất khẩu sang EU nhờ sự ưu đãi được hưởng của mặt hàng đó nằm trong danh mục các mặt hàng được hưởng ưu đãi GSP mà Việt Nam cũng nằm trong danh sách các nước được hưởng GSP nhờ đó mà mặt hàng đó có kim ngạch xuất khẩu tăng vọt vượt quá ngưỡng nhất định nào đó, ví dụ mặt hàng đó chiếm 25% thị phần, thì EU thấy rằng VN xuất khẩu ồ ạt đe dọa tới ngành sản xuất nội địa tương tự của EU hoặc đe dọa đến tính cạnh tranh của thị trường thì họ không cho VN được hưởng GSP đối với những mặt hàng đó – đây được gọi là cơ chế bảo vệ thị trường ngay cả khi các nước phát triển ưu đãi cho các nước đang phát triển họ vẫn có những biện pháp nhất định để bảo vệ thị trường).

Nôi dụng chính của chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập là

+Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước đang hoặc kém phát triển.

+ GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến.

+ Mục đích của việc áp dụng GSP là tạo điều kiện để các nước đang phát triển thấy được khả năng tiềm tàng về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế độ GSP  và tăng cường khả năng sử dụng chế độ này.

+ Tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước được hưởng.

+ Thúc đẩy công nghiệp hoá các nước này.

+ Đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế của những nước này.

+ Phổ biến thông tin về các quy định và thủ tục điều chỉnh buôn bán theo chế độ này.

+ Giúp đỡ các nước được hưởng thiết lập những điểm trọng tâm trong nước để tăng cường sử dụng GSP.

+ Cung cấp thông tin về các quy định liên quan đến thương mại như thuế chống phá giá và chống bù giá, các quy định hải quan, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, và pháp luật thương mại khác quy định các điều kiện thâm nhập thị trường các nước cho hưởng.

Chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập được các cơ quan lập pháp của các nước giành ưu đãi ban hành thành các văn bản pháp luật có hiệu lực trong từng thời kỳ nhất định có thể là 1 năm hay 10 năm hoặc vài ba chục năm sau thời hạn đó họ lại tiếp tục công bố những qui định cho những năm tiếp theo.

Ví dụ chế độ ưu đãi thuế quan của EU: đến hết năm 2002 EU đã giành cho 144 nước và 36 vùng lãnh thổ phụ thuộc như Macao, Nga, Việt nam được hưởng chế độ GSP. EU áp dụng chế độ GSP cho 3 nhóm ngành hàng chủ yếu: hàng công nghiệp, hàng dệt may và nông sản chế biến. Đối với hàng công nghiệp và hàng dệt từ các nước đang phát triển nhập khẩu vào EU được miễn thuế nhưng phải tuân thủ theo chế độ hạn ngạch (Quota) theo từng mặt hàng cấp cho từng nước, từng thời gian nhất định hoặc phải tuân thủ theo các hiệp định về tự hạn chế xuất khẩu hàng hoá sang EU. Đối với mặt hàng nông sản chế biến trừ 6 mặt hàng vào EU phải tuân thủ chế độ hạn ngạch như cà fê hoà tan, thuốc lá sợi … thì theo chế độ GSP, EU cho phép gần như 400 mặt hàng nông sản chế biến của các nước thuộc thế giới thứ ba nhập khẩu vào EU được hưởng chế độ ưu đãi nhất và miễn thuế nhập khẩu hoàn toàn cho 700 mặt hàng nhập khẩu từ các nước nghèo nhất vào EU. Đối với Việt nam kể từ năm 1993 EU đã cho hưởng qui chế GSP đối với mặt hàng dệt.

Điều kiện được hưởng GSP

(1) Sản phẩm phải xuất khẩu từ một nước được hưởng GSP

(2) Sản phẩm nằm trong danh mục được hưởng GSP

(3) Sản phẩm đáp ứng được các quy chế xuất xứ và điều kiện vận tải

(4) Hàng hoá phải có giấy chứng nhận xuất xứ – Form A

Form A: Giấy chứng nhận xuất xứ được hưởng GSP là giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A. Hay được gọi là “CO – Certificate of Original” có rất nhiều mẫu khác nhau (mẫu A, B, D, E, O, X v.v..) mỗi mẫu có một mục tiêu sử dụng khác nhau do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp, ví dụ như Phòng Công nghiệp và thương mại Việt Nam cấp chứng nhận xuất xứ, nhờ có giấy này mới có thể căn cứ vào đó để kê khai mức thuế, hàng hóa có được xuất khẩu từ một nước được hưởng ưu đãi thuế hay không. Mẫu giấy chứng nhận xuất xứ của các nước nằm trong ASEAN để được hưởng những ưu đãi của khối này là mẫu D.

(iii) Thuế quan tự vệ

Thuế quan tự vệ không được quy định trong luật thuế các nước mà được sử dụng linh hoạt nhằm mục đích bảo vệ hợp lý thị trường và nền sản xuất nội địa trước những biến động xấu từ bên ngoài.

Linh hoạt là vì nó không được quy định cố định trong luật thuế của từng nước mà tùy theo từng trường hợp cụ thể thì mức thuế quan này có thể thay đổi, cụ thể những trường hợp:

(1) Thuế chống bán phá giá; Ví dụ: hàng hóa của VN, Thái Lan hoặc Braxin xuất khẩu sang Mỹ, thì mức thuế mà Mỹ áp để chống bán phá giá đối với VN có thể khác, với các doanh nghiệp của Trung Quốc khác, Thái Lan thì khác, với VN thì mức giá cũng dao động, có doanh nghiệp bị áp thuế 4%, có những doanh nghiệp bị áp thuế tới 40% do vậy việc sử dụng linh hoạt tùy theo mức độ phá giá của sản phẩm mà cơ quan điều tra kết luận để áp mức thuế đối với từng doanh nghiệp.

(2) Thuế chống trợ cấp (thuế đối kháng); Thuế này nhằm đánh vào những mặt hàng được trợ cấp, chính phủ xuất khẩu trợ cấp cho hàng hóa đó, cho doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu đó, hành vi trợ cấp là hành vi gây ra sự cạnh tranh bất bình đẳng, doanh nghiệp sản xuất hàng hóa được chính phủ trợ cấp do vậy họ có thể bán hàng hóa đó thấp hơn giá thị trường (thậm chí thấp hơn giá thành sản xuất) hoặc thấp hơn các đối thủ cạnh tranh khác.

(3) Thuế chống phân biệt đối xử (thuế trả đũa); Được áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước mà có hành vi phân biệt đối xử với hàng hóa xuất khẩu từ nước mình sang, ví dụ như nếu Mỹ đối xử phân biệt đối với mặt hàng nhập khẩu từ Nhật Bản sang khác với sự đối xử với hàng hóa của Anh, hay Pháp thì Nhật Bản sẽ đối xử phân biệt lại như vậy đối với mặt hàng tương tự của Mỹ hoặc đối với mặt hàng khác của Mỹ.

(4) Thuế tự vệ. Loại thuế này khác với ba loại trên, cần có những điều kiện để áp dụng như nếu lượng hàng hóa nhập khẩu tăng vọt và có sự gia tăng không lường trước được và gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa đối với ngành sản xuất tương tự ở nước nhập khẩu thì khi đó nước nhập khẩu có quyền áp dụng biện pháp tự vệ.

  1. a) Tác động của thuế quan nhập khẩu.

Đường Dd: Cầu của người tiêu dùng trong nước đối với một mặt hàng.

D: Demand; d: domestic

Đường Sd: Cung của nhà sản xuất trong nước đối với hàng hoá đó.

S: Supply;

Pw: Giá hàng hoá trên thị trường thế giới.

P: Price; w: world

Pt: Giá hàng hoá sau khi có thuế.

P: Price; t: tariff

Khái niệm thặng dư người sản xuất, thặng dư người tiêu dùng

Khi hàng hóa trên thị trường thế giới trong một nền kinh tế có quy mô nhỏ, ta thấy ở mức giá trên thị trường thế giới rất thấp thì cầu người tiêu dùng trong nước sẽ là Q4, cung của nhà sản xuất trong nước là Q1 vậy nhập khẩu một lượng Q1Q4 và giá hàng hóa trên thị trường thế giới với lượng nhập khẩu sẽ là chỉ còn là Q2Q3 (khi giá tăng lên thì cung tăng lên, nhưng cầu giảm).

Tác động đầu tiên đối với người tiêu dùng: Người tiêu dùng sẽ là người bị thiệt đầu tiên khi có thuế quan, trước khi có thuế thì thặng dư của người tiêu dùng là phần tam giác trên đường giá, dưới đường cầu. Sau khi có thuế thì giá tăng lên (thặng dư của ngưòi tiêu dùng vẫn nằm trên đường giá dưới đường cầu từ tam giác lớn xuống còn tam giác nhỏ), vậy họ mất đi một diện tích là A + B + C + D. Khi người tiêu dùng bị thiệt thì Nhà nước và nhà sản xuất được hưởng lợi.

Tác động thứ hai vào nhà sản xuất: Trước khi có thuế nhà sản xuất thu được diện tích tam giác (phần nằm dưới đường giá, trên đường cung) nhưng sau khi có thuế thì được nhiều hơn (phần diện tích đã tăng lên do giá tăng lên) thặng dư của nhà sản xuất chính là tam giác …… như vậy là một phần của người tiêu dùng đã chui vào túi nhà sản xuất.

Tác động thứ ba được hưởng lợi là ngân sách Nhà nước. Chính phủ thu được phần diện tích C nhờ vào đánh thuế nhập khẩu (Q2Q3 chính là lượng nhập khẩu).

Thiệt hại ròng của xã hội do thuế quan sẽ là phần diện tích b + d. Người tiêu dùng bị giảm đi một lượng là a + b + c + d trong đó a chui vào túi nhà sản xuất và c chui vào túi nhà nước, thiệt hài ròng của xã hội là b + d. Trong đó b biểu thị thiệt hại ròng của thuế quan thể hiện tác động ảnh hưởng tới sản xuất (vì khi có thuế thì sản lượng tăng từ Q1 lên Q2 và nhà sản xuất nhờ có giá trong nước tăng lên từ Q1 đến Q2 nên họ có thể tăng sản lượng và họ sản xuất ở mức Q2 với mức chi phí biên rất cao – đường cung nói cách khác là đường chi phí cận biên, chi phí biến đổi nên ta thấy họ sản xuất với mức chi phí cao hơn với giá có thể mua ở nước ngoài, nhẽ ra có thể mua hàng hóa đó trên thị trường thế giới với mức giá chỉ Pw, nhờ có thuế rồi nên họ có thể sản xuất thêm cho dù chi phí biến đổi để sản xuất thêm sản phẩm cao hơn nhiều so với chi phí mà nhẽ ra có thể mua hàng từ nước ngoài, nguồn lực của xã hội bị thu hút vào việc sản xuất không hiệu quả, đáng nhẽ nguồn lực đó phải để di chuyển sang ngành sản xuất khác) d biểu thị ảnh hưởng tới tiêu dùng, người tiêu dùng thiệt hại vì mua được ít hàng hơn do giá bị đẩy lên do mức thuế quan vậy d là lỗ do việc không khuyến khích tiêu dùng hàng nhập khẩu.

Đối với một nền kinh tế có quy mô nhỏ thì việc đánh thuế quan luôn gây thiệt hại ròng cho xã hội.

– Tác động của thuế quan nhập khẩu bao gồm những:

+ Đối với giá thì: làm cho giá tăng.

+ Đối với sản xuất trong nước: bảo hộ và gia tăng sản xuất trong nước. (như Việt Nam đánh thuế ô tô thật cao để bảo hộ nền sản xuất ô tô trong nước).

+ Đối với tiêu dùng trong nước: hướng dẫn và tiết kiệm tiêu dùng. (Nhà nước lấy lý do là ô tô là mặt hàng xa xỉ hoặc ở Việt Nam hệ thống cơ sở hạ tầng đường giao thông còn rất yếu kém nên muốn hạn chế người dân tiêu thụ ô tô nên phải đánh thuế thật cao đối với sản phẩm ô tô).

+ Đối với Ngân sách: tăng thu ngân sách.

+ Đối với Thương mại quốc tế: Là công cụ điều tiết xuất nhập khẩu và cán cân thương mại. Giảm nhập khẩu. (Khi một nước nhập siêu thì chính phủ nước đó phải khắc phục bằng cách có thể đánh thuế cao một số mặt hàng, giảm nhập khẩu từ đó điều tiết xuất nhập khẩu và cán cân thương mại và từ đó điều tiết cán cân thanh toán).

+ Là Công cụ để phân biệt đối xử với các nước. Ví dụ ở Mỹ áp dụng biểu thuế đối với nước không có quan hệ tối huệ quốc với Mỹ thì Mỹ sẽ áp đặt mức thuế suất cao hơn rất nhiều, hoặc những nước đang phát triển được các nước phát triển họ ưu đãi bằng cách cho hưởng chế độ ưu đãi thuế quan phổ cập – GSP.

+ Phân phối lại thu nhập: Thuế quan là công cụ để điều tiết quyền lợi giữa những nhóm quyền lợi trong xã hội để thực hiện công bằng xã hội. Ta thấy tác động của thuế quan thì có những nhóm người được lợi còn có những nhóm người bị thiệt thòi, ví dụ nếu như Mỹ áp dụng thuế cao đối với sản phẩm như cá Catfish thì sẽ rất có lợi cho những người nông dân nuôi cá của Mỹ, nhưng đồng thời sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng Mỹ hoặc những doanh nghiệp khác (như nhà hàng sử dụng cá làm nguyên vật liệu đầu vào cho họ, hoặc những doanh nghiệp nhập khẩu cá của Mỹ). Tương tự khi Mỹ đánh thuế cao vào sản phẩm thép nhập khẩu, thì bảo vệ cho ngành thép, có lợi cho công nhân thép, những nhà kinh doanh thép trong nước, nhưng có thể gây ra thiệt hại đối với những ngành sản xuất khác trong nước là những ngành sử dụng thép làm nguyên liệu đầu vào như ngành sản xuất ô tô.

Với tác động tích cực của thuế quan như vậy nhưng cũng không thể đánh thuế thật cao vì thuế quan cũng có những tác động tiêu cực

  1. b) Tác động tiêu cực.

– Khi đánh thuế thật cao thì tất yếu dẫn tới hiện tượng Gian lận thương mại, trốn thuế, buôn lậu. Khi đánh thuế càng cao thì sự chênh lệch giữa giá trong nước và giá trên thị trường thế giới càng lớn và lợi nhuận thu được từ việc trốn khoản thuế đó càng lớn. Ở Việt Nam ta thấy thực tế là với những mặt hàng như ô tô, rượu ngoại, thuốc lá v.v.. là những mặt hàng mà việc buôn lậu diễn ra rất phổ biến.

– Thuế quá cao có thể làm giảm thu cho ngân sách nhà nước. Lượng nhập khẩu sẽ ít đi hoặc gian lận thương mại xảy ra nhiều do vậy sẽ làm ảnh hưởng tới ngân sách nhà nước.

– Người tiêu dùng bị nghèo đi. Thuế và các biện pháp mà hạn chế nhập khẩu, các biện pháp bảo hộ sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng, người tiêu dùng chỉ có thể mua hàng nội địa, các doanh nghiệp ỷ lại vào hàng rào bảo hộ nên hàng hóa trở nên kém cạnh tranh hơn cả về giá cả lẫn chất lượng, ví dụ như giá ô tô ở Việt Nam thuộc loại giá cao nhất nhì thế giới mặc dù VN là nước nghèo (gấp khoảng 2 lần so với khu vực, gấp 3 lần so với giá ô tô trên thị trường Mỹ)

– Hạn chế sự phát triển của thương mại quốc tế. Sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế.

– Sản xuất trong nước trì trệ nền kinh tế không hiệu quả, kém sức cạnh tranh.

0 Flares Twitter 0 Facebook 0 Google+ 0 Pin It Share 0 LinkedIn 0 Filament.io 0 Flares ×